32. Sớ Cúng Chồng II
(Kính Thành Nãi Nhất)
Nguyên văn:
伏以
敬誠乃一、無非事死若事生、綱綸者三、莫不報終而報始、欲求乎此、須要可求。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、全心所托、獨資夫義之恩、仰望終身、唯仗良人之力、室家之美、期白首以諧和、中路之分、赴黃泉而早別、仰遵敎典、敬設花筵、哀恳洪慈、仰伸薦悼。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、千
佛垂光、擺手出娑婆界內、九蓮飄馥、飜身入安養國中。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Kính thành nãi nhất, vô phi sự tử nhược sự sanh; cương luân giả tam, mạc bất báo chung nhi báo thỉ; dục cầu hồ thử, tu yếu khả cầu. Sớ vị:
Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Toàn tâm sở thác, độc tư phu nghĩa chi ân; ngưỡng vọng chung thân, duy trượng lương nhân chi lực; thất gia chi mỹ, kỳ bạch thủ dĩ hài hòa; trung lộ chi phân, phó Huỳnh Tuyền nhi tảo biệt; ngưỡng tuân giáo điển, kính thiết hoa diên; ai khẩn hồng từ, ngưỡng thân tiến điệu. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Thiên Phật thùy quang, bãi thủ xuất Ta Bà giới nội; Cửu Liên phiêu phức, phiên thân nhập An Dưỡng quốc trung. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- thành chỉ một, nào phải lo chết hay lo sanh; luân thường có ba, chẳng vì báo đền sau hoặc trước; muốn cầu được vậy, tất phải chí thành.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Toàn tâm phó thác, riêng mang ơn nghĩa nương chồng; ngưỡng vọng suốt đời, thảy cậy hiền nhân sức lực; cửa nhà yên đẹp, mong đầu bạc được hòa hài; giữa đường chia phân, xuống Suối Vàng sớm cách biệt; ngưỡng tuân lời dạy, kính bày chiếu hoa; khẩn trông xót thương, lòng thành dâng cúng. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Ngàn Phật phóng quang, thỏng tay ra Ta Bà cảnh giới; đài sen thơm phức, chuyển thân vào An Dưỡng nước trong. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
Cương luân giả tam (綱綸者三): theo quan niệm của xã hội phong kiến ngày xưa, đây là mối quan hệ ràng buộc về đạo đức mà con người cần phải thực hiện, có 3 điều (tức Tam Cương [三綱]): đạo của vua tôi, cha con và vợ chồng. Có nghĩa là bầy tôi phải tuyệt đối phục tùng đức vua, con phải vâng lời cha và vợ phải thờ chồng. Như trong Tam Tự Kinh (三字經) có giải thích rằng: “Tam Cương giả, quân thần nghĩa, phụ tử thân, phu phụ thuận (三綱者、君臣義、父子親、夫婦順, Tam Cương là vua tôi sống có nghĩa, cha con thân thiết, chồng vợ thuận thảo).” Tam Cương thường đi đối với Ngũ Thường (五常, năm nguyên tắc quan hệ luân lý của con người, gồm Nhân [仁], Nghĩa [義], Lễ [禮], Trí [智] và Tín [信]) và không thể tách ly; được gọi là Cương Thường (綱常). Dưới thời Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 trước dương lịch, tdl), xuất phát từ mối quan hệ giữa trời và con người và căn cứ vào tư tưởng “thiên tôn địa ty (天尊地卑, trời cao đất thấp)”, Đổng Trọng Thư (董仲舒, 179-104 tdl) thiết lập ra Tam Cương Ngũ Thường (三綱五常) nầy. Trong Phong Thần (封神), hồi thứ 7, Phí Trọng Kế Phế Khương Hoàng Hậu (費仲計廢姜皇后) có câu: “Dưỡng thành sàm ngược Tam Cương tuyệt, nhưỡng tựu húng tường vạn tánh sầu (養成讒虐三綱絶、釀就酗戕萬姓愁, lớn lên lỗ mãng Tam Cương hết, gây rối say sưa trăm họ buồn).”